“Du học, anh học được gì ngoài kiến thức chuyên môn? Có đáng phải du
học không?”. Câu hỏi chơi của người bạn làm thức dậy điều mà tôi đã
nhiều lần suy tư.
Tôi đã tổng kết lại, tự nhận ra được những điều hay mà mình đã học:
Thứ nhất, điều quan trọng nhất là tôi học được sự tự giác và lòng tự
trọng của người trí thức. Khi làm bài kiểm tra, tôi không thấy giáo sư
Mỹ phải đi “tuần tra” khắp lớp như ở Việt Nam để canh chừng nạn quay
cóp. Các vị cứ ung dung ngồi đọc báo, hoặc làm việc riêng, vậy mà chẳng
thấy sinh viên (SV) nào mở tài liệu ra xem, cũng chẳng thấy SV hỏi bài
nhau.
SV nào không đến lớp làm kiểm tra được hôm đó, cứ xin phép, giáo sư
sẽ cho đề riêng để làm vào một hôm khác. Nhiều SV khi làm đề thi riêng,
đem ghế ra ngoài hành lang làm một mình, để khỏi bị bài giảng của giáo
sư làm phân tâm. Tôi cố tình để ý những sinh viên này và cũng không
thấy họ mở tài liệu ra.
Những người xung quanh tự giác như thế, tôi cũng phải theo. Trong khi đó, ở Việt Nam tôi bị xem là lập dị khi không quay cóp.
Kỷ niệm buồn nhất của tôi về chuyện này xảy ra năm lớp 12. Các bạn
tôi mở sách hướng dẫn giải bài tập ra chép trong lúc làm bài tập Anh
văn nên được điểm 9 - 10. Tôi không chép, tự làm nên được 4, và kết quả
là thầy mắng cho một trận vì “cả lớp làm được như thế, mà em làm không
được là sao?”. Và đương nhiên khi ra chơi các bạn tôi có dịp cười rũ
rượi về cái-thằng-lập-dị như tôi.
Ngày đầu tôi bước vào giảng đường đại học Mỹ, bài học đầu tiên của
tôi là đừng bao giờ chơi trò “plagiarism” (đạo văn). Nếu giáo sư phát
hiện tôi đạo văn của ai đó, coi như tôi phải “tạm biệt” ngôi trường của
tôi vĩnh viễn, đó là luật.
Các vị giáo sư ở bên này có thể “ngửi được cái mùi… kém cỏi” của SV
dễ dàng. Các vị đã đọc rất nhiều sách nên nắm rõ trường phái nào, ý
tưởng nào của ai, ở sách nào… Do đó, khi nghi ngờ SV “thuổng” ý tưởng
của ai đó, các vị có thể kiểm tra ngay.
Ngày nay, các vị giáo sư còn được nhiều phần mềm và website hỗ trợ
cho việc này. Chỉ cần gõ lại câu văn bị nghi ngờ của SV vào ô tìm kiếm
(giống như khi tìm kiếm trên Google hay Yahoo), lập tức kẻ đạo văn sẽ
lộ mặt, nếu câu văn đó thật sự là đồ chôm chỉa.
Thứ hai, tôi học được khả năng tự quản lý, sắp xếp việc học của
mình. Ngay từ đầu học kỳ, giáo sư sẽ phát cho SV một cái syllabus (tạm
dịch là chương trình học). Trong syllabus, giáo sư ghi rõ môn đó là môn
gì, dạy cái gì, ngày nào học cái gì, SV phải đọc sách nào, trang mấy;
khi nào kiểm tra, nội dung ra sao…
Căn cứ trên syllabus, sinh viên cứ theo đó mà sắp xếp lịch học, vì
vậy SV rất chủ động, thoải mái trong việc học của mình. Tuần đầu tiên
của học kỳ thường là tuần học thử. Trong tuần này, SV sẽ đi học hết
những môn mà mình muốn học.
Sau đó, so sánh syllabus các môn với nhau, SV quyết định sẽ chính
thức học môn nào, bỏ môn nào. Cũng dựa vào syllabus, SV sắp xếp chuyện
đi làm thêm, học thêm, và lịch đi chơi giải trí cho cả học kỳ.
Thứ ba, tôi học được cách lý luận độc lập. Khoa học là vô biên, là
sự phát triển không ngừng, nên không có học thuyết tuyệt đối. Do đó, SV
được quyền chất vấn giáo sư, đặt vấn đề ngược lại, nếu cảm thấy nghi
ngờ điều giáo sư vừa nói và thậm chí đặt vấn đề với cả những học
thuyết.
Giáo sư không bao giờ mắng SV là đồ ngu, mà khuyến khích hỏi tới
nơi tới chốn. Một giáo sư ngôn ngữ học của đại học Santa Cruz nói: một
nghiên cứu của ngành giáo dục Mỹ cho biết câu hỏi “tại sao” và “như thế
nào” chiếm gần 80% trong các câu hỏi được nêu lên trong giảng đường đại
học Mỹ.
Ngay cả văn thơ, SV cũng không bị bắt buộc học thuộc lòng những tác
phẩm, thay vào đó là chú trọng phần lý luận. Tác phẩm có sẵn trong
sách, khi cần có thể mở ra xem, vậy tại sao phải học thuộc lòng? Vấn đề
là sau khi xem tác phẩm SV có biết đưa ra ý kiến của mình hay không.
SV không buộc phải có ý kiến giống sách giáo khoa, vì khả năng cảm
thụ của mỗi người mỗi khác, miễn là khi đưa ra nhận định SV có đủ lý
luận để chứng minh cho nhận định của mình.
Thứ tư, tôi học được cách nghiên cứu độc lập. Người viết bài này
từng chứng kiến Rosa, một học sinh lớp 5 phải tự vào thư viện tìm tòi
về địa lý thành phố Santa Cruz, nơi em đang ở, sau đó viết “report”
(tường thuật chứ không chép lại những gì em tìm được trong thư viện).
Đương nhiên cách làm này sẽ khiến em nhớ nhiều hơn là học và trả
bài như con vẹt. Sau đó không lâu tôi có gặp lại Rosa, nhân lúc nói
chuyện về thời tiết, em đã giải thích cho tôi tại sao khí hậu Santa
Cruz được xem là “dễ chịu” nhất nước Mỹ.
Ở bậc học đại học, các giáo sư cũng làm như thế, nên SV phải tận
dụng tối đa thư viện, nhờ đó khả năng nghiên cứu độc lập được nâng lên.
Người học có cảm giác ông thầy chẳng dạy gì cho mình cả. Suốt ngày ông
chỉ bắt SV vào thư viện, đọc đọc, chép chép, rồi đến lớp thảo luận. Tuy
vậy qua cách học đó, những kiến thức khi đã vào đầu thì không chạy ra
được dù muốn tống nó ra.
Thứ năm, tôi học được cách tôn trọng người khác và làm người khác
tôn trọng. Các giáo sư, văn phòng khoa, nhân viên của trường đối xử với
SV như một người lớn thật sự. Họ biết tôn trọng, lắng nghe SV. Đi đến
đâu cũng thấy những “nụ cười nở trên môi”, những lời “xin lỗi”, “cám
ơn”, “xin vui lòng” từ những người đó.
Khi SV đến làm việc với khoa, thư viện… SV không có cảm giác mình là một kẻ đi xin xỏ, nhờ vả.
Chuyện riêng tư của SV được tôn trọng tuyệt đối. Sau kỳ thi, mỗi SV
nhận được một cái phong bì, trong đó là điểm số của mình và lời nhận
xét của giáo viên. Không ai biết điểm của ai.
Trường đối xử với tôi như thế, nên tôi không thể trả đũa bằng những
cái trò phá phách, nghịch ngợm, cứng đầu theo kiểu trẻ con được.
(Theo Tuổi Trẻ)


